Thứ Tư, ngày 30 tháng 07 năm 2014

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

TS. ĐỖ NGÂN BÌNH – Khoa Pháp luật kinh tế ĐHL Hà Nội
Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006. Luật này quy định ba chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với người lao động là chế độ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHXH thất nghiệp.

Theo quy định tại Điều 140, Luật BHXH sẽ chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2007, riêng các quy định về bảo hiểm tự nguyện sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2008, các quy định về bảo hiểm thất nghiệp sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2009. Sau đó, ngày 22/12/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/2006/NĐ-CP cụ thể hoá các quy định về bảo hiểm bắt buộc trong Luật Bảo hiểm xã hội. Tiếp theo, ngày 30/1/2007, Bộ Lao động- Thương Binh và Xã hội ban hành Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 152/2006/NĐ-CP.
Như vậy, kể từ ngày 1/1/2007, các quy định trước đây[1] về bảo hiểm xã hội đối với người lao động sẽ không còn hiệu lực. Việc thi hành Luật bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành (như đã nêu trên) đang là vấn đề thu hút sự chú ý của đông đảo người lao động. Điều mà người lao động tại các doanh nghiệp quan tâm là với việc ban hành và chính thức thực hiện các quy định của Luật BHXH, quyền của người lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội có những thay đổi gì đáng lưu ý?

Luật BHXH quy định cùng lúc ba chế độ BHXH là BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Việc quy định nhiÒu h×nh thức và chế độ bảo hiểm xã hội tại Luật BHXH là bước cụ thể hoá quy định trong Hiến pháp và Nghị quyết của Đảng về phát triển các loại hình bảo hiểm xã hội, từng bước mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, góp phần đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội. Xây dựng và thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ là cơ sở pháp lý cho đông đảo người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

Nhìn chung, các quy định về BHXH bắt buộc do đã có quá trình triển khai thực hiện và phát huy tác dụng tích cực trong việc bảo vệ người lao động nên được Luật BHXH quy định cụ thể hơn và có những thay đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu của thực tiễn khách quan. Ngoài ra, với việc Chính phủ và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội kịp thời ban hành hai văn bản hướng dẫn là Nghị định 152/2006/NĐ-CP và Thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH về bảo hiểm bắt buộc, vấn đề thực hiện bảo hiêm bắt buộc đối với người lao động đã có đầy đủ cơ sở pháp lý để triển khai trong thực tiễn.

Vì những lý do trên nên trong phạm vi bài viết này, khi đề cập đến quyền hưởng BHXH của người lao động theo Luật BHXH, chúng tôi chỉ đề cập đên những quy định mới về việc đóng góp và chi trả BHXH bắt buộc đối với những đối tượng là người lao động. Cụ thể là những điểm đáng chú ý sau đây:

Thứ nhất, những thay đổi về việc đóng BHXH bắt buộc.

Trước kia theo quy định tại Điều 36 NĐ 12/CP [2], Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia bảo hiểm xã hội trong đơn vị; trong đó 10% để chi các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí và tử tuất. Đây là mức đóng áp dụng đối với những người lao động thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc (tham gia HĐLĐ từ 3 tháng trở lên).

Theo quy định mới, người lao động thuộc diện đóng BHXH bắt buộc trước mắt vẫn đóng với mức 5% tiền lương và tiền công hằng tháng; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng bằng là 8%; người sử dụng lao động hằng tháng sẽ đóng 3% vào quỹ ốm đau và thai sản, 1% vào quỹ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất (riêng với quỹ này từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%). Như vậy, tổng mức đóng hiện tại của người sử dụng lao động vẫn là 15% quỹ tiền lương (tiền công) đóng BHXH của người lao động. Nhưng mức đóng sẽ tăng dần từ năm 2010 cho đến khi đạt mức 18% thì dừng lại.

Mặc dù còn có ý kiến cho rằng việc tăng mức đóng BHXH như quy định của Luật BHXH và Nghị định 152/2006/NĐ-CP sẽ làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhưng theo tính toán của các cơ quan chuyên môn, phải tăng mức đóng với lộ trình như vậy mới đảm bảo khả năng chi trả lâu dài của quỹ quỹ hưu trí và tử tuất. Đồng thời, với việc trong thời gian tới vẫn giữ nguyên mức đóng như hiện tại sẽ giúp các doanh nghiệp chủ động tính toán, bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường.

Thứ hai, những thay đổi trong việc chi trả các chế độ BHXH bắt buộc.

Theo quy định của Luật BHXH, đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ được hưởng 5 chế độ BHXH là: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động (TNLĐ) hoặc bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. Nhìn chung, thời gian nghỉ của từng chế độ BHXH và cách tính tiền lương đối với người lao động có những thay đổi theo hướng đảm bảo mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHXH trước đó của chính người lao động.

Về chế độ ốm đau, số ngày nghỉ chế độ ốm đau của người lao động có sự thay đổi trong những trường hợp ốm đau thông thường. Theo Nghị định số 12/CP, số ngày nghỉ là 30, 40 hoặc 50 ngày/năm tuỳ theo số năm đóng BHXH. Nay theo quy định mới về bảo hiểm bắt buộc, số ngày nghỉ tăng lên là 30, 40 hoặc 60 ngày/năm. Mức lương trong thời gian nghỉ vẫn là 75%.

Về chế độ thai sản, theo quy định mới về bảo hiểm bắt buộc, khi sinh con, ngoài 100% lương được hưởng tính theo thời gian nghỉ, với mỗi đứa con, người mẹ được hỗ trợ 2 tháng lương tối thiểu[3]. Điều đáng lưu ý là, để được hưởng chế độ thai sản, người mẹ phải đảm bảo đã đóng BHXH ít nhất là 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con[4]. Đây là quy định mới nhằm tránh tình trạng lợi dụng các quy định về bảo hiểm thai sản nhằm hưởng chế độ khi chưa đủ thời gian đóng góp BHXH; hoặc chỉ tham gia để hưởng chế độ thai sản, sau khi sinh con xong lại không tham gia BHXH.

Về chế độ BHXH đối với người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp (TNLĐ/BNN). Theo quy định tại Nghị định 12/CP, chế độ đối với người bị TNLĐ/BNN có thể là trợ cấp 1 lần đối với người suy giảm sức lao động từ 5%- 30% theo 3 mức từ 4, 8 hoặc 12 tháng lương tối thiểu; trợ cấp hàng tháng đối với người bị suy giảm từ 31%- 100% theo các mức từ 0,4 đến 1,6 mức lương tối thiểu. Cách tính này không thể hiện được nguyên tắc hưởng thụ theo đóng góp của BHXH, mà chỉ đảm bảo mức chi trả BHXH trên cơ sở mức suy giảm khả năng lao động của người bị tai nạn.

Nay theo cách tính mới, trợ cấp TNLĐ/BNN phải căn cứ vào hai yếu tố là tỷ lệ suy giảm sức lao động và đóng góp trước đó của người bị tai nạn. Cụ thể là, người lao động hưởng trợ cấp 1 lần như sau: suy giảm 5% khả năng lao động được hưởng 5 tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung; ngoài ra còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đóng BHXH, từ 1 năm trở xuống tính bằng 0,5 tháng lương liền kề của người lao động, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3 tháng lương đóng BHXH liền kề. Mức trợ cấp hằng tháng (áp dụng đối với người suy giảm từ 31% sức lao động trở lên) được quy định như sau: Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung; Ngoài mức trợ cấp này, hằng tháng ng­êi lao ®éng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

Về chế độ hưu trí, luật BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành bảo hiểm xã hội bắt buộc đã có những thay đổi đáng chú ý như: điều kiện để được hưởng lương hưu hàng tháng quy định chặt chẽ hơn, cách tính tiền lương hưu (hằng tháng hoặc 1 lần) có sự thay đổi để đảm bảo người lao động sẽ được hưởng chế độ hưu trí phù hợp với đóng góp trước đó của họ khi tham gia BHXH.

Cụ thể là, người lao động khi đã đạt đến mức tối đa của lương hưu là 75% [5], họ sẽ được hưởng thêm tiền trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu mỗi năm là 0,5 tháng lương tương ứng với số năm tiếp tục tham gia BHXH của họ. Mức trợ cấp này theo Nghị định 12/CP tối đa là 5 tháng lương (tương ứng với 10 năm tiếp theo tham gia BHXH). Theo luật BHXH, mức này không bị khống chế tối đa mà được tính căn cứ số năm tham gia BHXH của người lao động sau khi đã tính đủ tỷ lệ 75% lương hưu (đối với nam tính từ năm thứ 31 trở đi, đối với nữ tính từ năm thứ 26 trở đi).

Cách tính chế độ hưu trí 1 lần đối với người lao động chưa đủ điều kiện hưởng hưu trí hàng tháng cũng có sự thay đổi. Trước kia, theo Nghị định 12/CP, mỗi năm tham gia BHXH người lao động được hưởng 1 tháng lương. Nay theo Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành, mức này tăng lên 1,5 tháng lương đối với mỗi năm tham gia BHXH [6].

Về chế độ tử tuất, cũng có một số điểm thay đổi về cách tính tiền mai táng phí và tiền tuất đối với người chết. Cụ thể là, tiền mai táng phí tăng từ 8 tháng tiền lương tối thiểu (theo Nghị định 12/CP) lên 10 tháng tiền lương tối thiểu (theo luật BHXH) để chi phí cho tang lễ của người lao động bị chết. Tiền tuất hằng tháng đối với thân nhân người chết nếu đủ điều kiện hưởng tiền tuất hàng tháng [7] có hai mức là 50% hoặc 70% mức lương tối thiểu/người/tháng (tuỳ thuộc vào việc những thân nhân này còn người trực tiếp nuôi dưỡng ngoài người đã chết hay không). Mức này theo quy định của Nghị định 12/CP là 40% và 70%. Tiền tuất 1 lần cũng tăng từ 1 tháng lương đối với mỗi năm đóng BHXH lên 1,5 tháng lương đối với mỗi năm đóng BHXH. Nhìn chung, sự thay đổi này đã thể hiện rõ quan điểm có tính định hướng khi xây dựng luật BHXH là bên cạnh mục đích tương trợ cộng đồng, luật BHXH phải đảm bảo người lao động được hưởng BHXH theo đóng góp trước đó của chính họ.

Với những thay đối như trên, có thể thấy các quy định về bảo hiểm bắt buộc theo Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành có nhiều điểm tiến bộ hơn so với các văn bản trước đó như: i) Quy định một cách tương đối thống nhất các chế độ BHXH bắt buộc đối với người lao động; ii) Từng bước điều chỉnh mức đóng và hưởng BHXH bắt buộc nhằm đảm bảo cân đối thu- chi BHXH; iii) Điều chỉnh việc chi trả BHXH bắt buộc nhằm đảm bảo nguyên tắc “mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia xẻ”[8]; iv) Mở rộng dần các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc cũng như tăng các chế độ BHXH đối với người lao động nhằm đảm bảo mọi người lao động đều có quyền hưởng BHXH khi bị giảm hoặc mất thu nhập./.


 

Số lượt truy cập:

142023
Hôm nay: 495Theo tuần: 3047Theo tháng: 44532